Chương V: Kỹ Thuật Điều Chế (Modulation)
Chương này trình bày về kỹ thuật điều chế, một quá trình quan trọng trong việc truyền tải thông tin bằng tín hiệu điện từ. Điều chế được định nghĩa là quá trình sử dụng tín hiệu tần số thấp (tin tức) để tác động và điều hòa một thông số nào đó (biên độ, tần số hoặc góc pha) của tín hiệu cao tần (sóng mang). Tín hiệu cao tần mang tin tức sau khi điều chế được gọi là dao động cao tần đã điều chế.
Mục đích của điều chế là để tín hiệu tin tức có thể truyền đi trong môi trường truyền tin, vì tín hiệu gốc thường không truyền được. Đồng thời, điều chế còn giúp tạo điều kiện ghép nhiều kênh truyền tin để truyền qua cùng một môi trường.
Chương này tập trung vào hai kỹ thuật điều chế chính:
1. Kỹ Thuật Điều Biến Biên Độ (Amplitude Modulation - AM)
Định nghĩa: Kỹ thuật điều biến biên độ là kỹ thuật thay đổi biên độ của sóng mang cao tần theo biên độ của tín hiệu gốc chứa nội dung tin tức. Sóng mang cao tần có khả năng phát xạ sóng điện từ, trong khi tín hiệu gốc thì không.
Chương trình bày chi tiết về công thức, chỉ số điều biên (hệ số điều chế), hiện tượng quá điều chế, cách xác định hệ số điều chế thực tế thông qua các giá trị Vmax, Vmin, cũng như phổ tần và công suất của tín hiệu điều biến biên độ trong các trường hợp tín hiệu gốc đơn giản và phức tạp.
Ngoài ra, chương còn đề cập đến các kỹ thuật truyền sóng điều biên như DSBFC, SSB, ISB, DSBSC, VSB và phân tích ưu nhược điểm của chúng.
2. Kỹ Thuật Điều Biến Góc
Kỹ thuật điều biến góc bao gồm điều biến tần số (FM) và điều biến pha (PM). Kỹ thuật này có ưu điểm ít bị can nhiễu bởi tiếng ồn công nghiệp hơn kỹ thuật điều biên, nhưng mạch điện tử phức tạp hơn và dải thông rộng hơn.
Chương giải thích định nghĩa, công thức, mối quan hệ giữa điều biến tần số và điều biến pha, cũng như biểu thức tổng quát của sóng điều biến góc.
Phần cuối chương trình bày về dải thông của mạch khuếch đại sóng điều biến góc và công suất trung bình của sóng điều biến góc.