Đề tài khoa học
Mã số: 10-2003
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ AN TOÀN XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA THỐNG KÊ NHÀ NƯỚC
Cấp đề tài: Cơ sở
Thời gian nghiên cứu: 2003
Đơn vị chủ trì: Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường
Đơn vị quản lý: Viện Khoa học Thống kê
Chủ nhiệm đề tài: CN. Nguyễn Phong
Những người phối hợp thực hiện:
- CN. Võ Thành Sơn
- CN. Hồ Thị Kim Nhung
- CN. Nguyễn Văn Thuỷ
- CN. Dương Bạch Long
- CN. Phạm Văn Được
- CN. Phạm Quang Lộc
Kết quả bảo vệ: loại khá
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ AN TOÀN XÃ HỘI
1.1. An toàn xã hội
An toàn xã hội là một vấn đề mới, được nghiên cứu đầy đủ trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Vấn đề này đặt ra do sự gia tăng các tệ nạn xã hội, sự phân hóa đời sống, ảnh hưởng của văn hóa độc hại và ô nhiễm môi trường. An ninh quốc gia được định nghĩa là sự an toàn, ổn định chung của một chế độ, một xã hội. Trật tự an toàn xã hội là trạng thái ổn định, có tổ chức, kỷ cương, nơi mọi lợi ích chính đáng được đảm bảo và không bị xâm hại.
Đề tài sử dụng khái niệm an toàn xã hội của tác giả Lê Thế Tiệm, nhấn mạnh khả năng phục hồi lại trạng thái cân bằng của xã hội sau các biến cố bất thường. Việc bảo vệ trật tự an toàn xã hội cần tập trung vào các mặt như phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự công cộng, phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội và chống ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, còn bao gồm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống lụt bão, thiên tai.
An ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội có mối quan hệ nhân quả, đòi hỏi các hoạt động đồng bộ trên cả hai mặt đối nội và đối ngoại.
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê an toàn xã hội
Hệ thống chỉ tiêu thống kê an toàn xã hội là một bộ phận của hệ thống chỉ tiêu kinh tế - xã hội, giúp đánh giá sự phát triển toàn diện của xã hội, cảnh báo các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực và đánh giá sự phát triển bền vững. An toàn xã hội mang tính giai cấp, là sự bảo vệ quyền lợi của các giai cấp thống trị và quyền lợi chính đáng của công dân. Nó cũng có tính xã hội hóa, đòi hỏi sự tham gia của mọi công dân.
Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê an toàn xã hội cần đảm bảo tính nhân quả, tác động qua lại với các quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Thống kê an toàn xã hội cần phân tích hậu quả xã hội của các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế. Nó là yếu tố cần thiết cho công tác quản lý nhà nước, cung cấp cái nhìn tổng thể về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và an toàn xã hội.
Các yếu tố cụ thể của an toàn xã hội như phòng chống tội phạm, bảo vệ môi trường, phòng chống tai nạn giao thông do các ngành chức năng khác nhau phụ trách. Tuy nhiên, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan này trong việc cung cấp và sử dụng thông tin thống kê. Cơ quan thống kê nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện công tác thống kê an toàn xã hội, đảm bảo tính đầy đủ, liên tục, không trùng lắp và mang tính khoa học.
Luật Thống kê năm 2003 quy định rõ vai trò của cơ quan thống kê trung ương trong việc giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thống kê, bao gồm xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển công tác thống kê và hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia.
II. THỰC TRẠNG CỦA THỐNG KÊ AN TOÀN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ AN TOÀN XÃ HỘI.
2.1. Thực trạng thống kê an toàn xã hội ở nước ta hiện nay.
Thống kê an toàn xã hội ở nước ta chủ yếu phục vụ nhu cầu quản lý, điều hành của các cơ quan chuyên môn, Quốc hội, Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục.
Thứ nhất, thống kê an toàn xã hội chưa được xem là một chỉnh thể, còn gắn liền với các ngành hành pháp và tư pháp, bỏ qua nhiều lĩnh vực liên quan.
Thứ hai, công tác thống kê giữa các ngành liên quan đến phòng chống tội phạm diễn ra độc lập, dẫn đến chồng chéo và thiếu thống nhất trong việc tính toán các chỉ tiêu. Nội dung và cách xác định nhiều chỉ tiêu còn chưa rõ ràng. Công tác tổ chức thu thập thông tin và thời gian thu thập giữa các ngành không đồng nhất, gây khó khăn cho việc tổng hợp và so sánh.
Một đặc điểm khác là thống kê an toàn xã hội có tính bảo mật cao, đối tượng sử dụng thông tin hạn hẹp, không công bố rộng rãi.
Cuối cùng, hệ thống thống kê nhà nước chưa tham gia sâu vào việc tiến hành các hoạt động thống kê an toàn xã hội do phạm vi điều chỉnh hạn chế của Pháp lệnh Kế toán thống kê.
Đặc điểm hoạt động thống kê an toàn xã hội của một số ngành:
- Ngành thống kê nhà nước: Hiện nay chưa tham gia nhiều vào thống kê an toàn xã hội, chỉ theo dõi một số lĩnh vực như tai nạn giao thông và ngộ độc thực phẩm. Số liệu còn hạn chế, chưa phân theo địa phương, vùng lãnh thổ, chưa theo dõi thiệt hại tài sản. Các cuộc điều tra thống kê có đề cập đến các tệ nạn xã hội nhưng không mang tính đại diện cao.
- Ngành Công an: Thực hiện thống kê hình sự - thống kê tội phạm nhằm theo dõi và phản ánh tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, còn tồn tại các hạn chế về độ chính xác, tính đầy đủ, kịp thời và thiếu đầu mối thống nhất.
- Ngành Toà án: Thống kê các chỉ tiêu về an toàn xã hội bao gồm tình hình tội phạm, tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính, kinh tế và thi hành án hình sự. Các biểu mẫu thống kê chưa được đổi mới, bổ sung kịp thời, dẫn đến việc khai thác thông tin còn hạn chế.
- Ngành Kiểm sát: Thống kê hình sự phản ánh quá trình phát hiện và xử lý các hành vi phạm tội. Hạn chế là chưa phản ánh được tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm và mức độ thiệt hại.
- Ngành Tư pháp: Quản lý nhà nước về giáo dục pháp luật và thi hành án dân sự. Các chỉ tiêu này góp phần đánh giá về an toàn xã hội và chất lượng bản án dân sự.
- Ngành Phòng chống lụt bão và thiên tai: Gặp khó khăn trong việc xác định chính xác và thống nhất mức độ thiệt hại do thiên tai gây ra.