TIỂU LUẬN: Thực trạng tiêu thụ sản phẩm tại công ty cao su Sao Vàng
Phần I: Thực trạng tiêu thụ sản phẩm tại công ty cao su Sao Vàng
I. Một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty cao su Sao Vàng.
1. Quá trình hình thành và phát triển công ty cao su Sao Vàng.
Công ty cao su Sao Vàng, tiền thân là nhà máy cao su Sao Vàng, được khởi công xây dựng ngày 22/10/1958 tại khu công nghiệp Cao-Xà-Lá, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nhà máy chính thức sản xuất thử những sản phẩm đầu tiên mang nhãn hiệu Sao Vàng vào ngày 06/4/1960 và ngày 23/5/1960 là ngày khánh thành, cũng là ngày truyền thống của công ty.
Công ty là doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam, chuyên sản xuất săm, lốp các phương tiện vận tải (xe máy, xe đạp, ô tô, máy bay), cao su kỹ thuật khác.
Trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, công ty đã trải qua 3 giai đoạn chính:
- Giai đoạn 1960 - 1986: Thời kỳ đầu hoạt động trong cơ chế hành chính bao cấp. Sản xuất tăng trưởng ổn định, số nhân công tăng không ngừng. Năm 1960, giá trị tổng sản lượng đạt 2.459.442 đồng, với các sản phẩm chủ yếu là lốp xe đạp (93.664 chiếc) và săm xe đạp (38.388 chiếc). Đội ngũ cán bộ công nhân viên là 262 người. Giai đoạn này, quy mô sản xuất còn nhỏ, công nghệ thủ công, sản phẩm đơn điệu, điều kiện sản xuất khó khăn.
- Giai đoạn 1987 - 1990: Năm 1987 sản xuất 66.232 chiếc lốp ô tô, sản phẩm xuất khẩu sang Đông Âu. Công ty chuyển đổi từ cơ chế hành chính bao cấp sang cơ chế thị trường. Giai đoạn này đầy thách thức, đòi hỏi sự đoàn kết và kinh nghiệm để tồn tại. Đến năm 1990, sản xuất dần ổn định, thu nhập lao động tăng.
- Giai đoạn 1991 đến nay: Công ty có những bước đi phù hợp với cơ chế thị trường, khẳng định vị trí trên thị trường. Công ty đã sắp xếp lại tổ chức, phân cấp quản lý, xây dựng mạng lưới phân phối rộng khắp. Năm 1992, nhà máy được đổi tên thành Công ty Cao su Sao Vàng. Công ty đã sát nhập, liên doanh với nhiều đơn vị khác để mở rộng quy mô, tiếp nhận công nghệ hiện đại. Hiện tại, công ty có 07 chi nhánh, hơn 200 đại lý. Năm 2002, giá trị tổng sản lượng đạt 341.780 triệu đồng với 2916 người lao động. Công ty là đơn vị sản xuất kinh doanh cao su lớn nhất, lâu đời nhất và duy nhất sản xuất săm lốp ô tô ở miền Bắc Việt Nam.
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Công ty hoạt động theo mô hình trực tuyến - chức năng, đứng đầu là ban giám đốc (gồm Giám đốc và 05 Phó giám đốc). Bộ máy quản lý bao gồm các phòng ban chức năng như:
- Giám đốc
- Phó giám đốc sản xuất và bảo vệ sản xuất
- Phó giám đốc kinh doanh
- Phó giám đốc kỹ thuật và xuất khẩu
- Phó giám đốc xây dựng cơ bản
- Phó giám đốc chi nhánh cao su Thái Bình
- Bí thư Đảng ủy và văn phòng Đảng ủy
- Chủ tịch Công đoàn
- Phòng tổ chức hành chính
- Phòng tài chính kế toán
- Phòng kế hoạch đầu tư
- Phòng đối ngoại xuất nhập khẩu
- Phòng kỹ thuật cao su
- Phòng kỹ thuật cơ năng
- Phòng xây dựng cơ bản
- Phòng KCS
- Phòng điều độ sản xuất
- Phòng đời sống
- Phòng quân sự - bảo vệ
- Phòng tiếp thị bán hàng
Ngoài ra, công ty còn có các xí nghiệp thành viên như: Xí nghiệp cao su số 1, 2, 3, 4; Xí nghiệp năng lượng; Xí nghiệp cơ điện; Xưởng thiết kế bao bì; Nhà máy pin, cao su Xuân Hoà; Nhà máy cao su Nghệ An.
3. Một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm.
3.1. Thị phần trên thị trường:
Thị trường mục tiêu của công ty bao gồm hai loại:
- Thị trường tiêu dùng: Khách hàng cá nhân, thị trường rộng lớn, chủ yếu trong nước, phân tán và có quy mô nhỏ lẻ. Người tiêu dùng đã quen thuộc với nhãn hiệu Sao Vàng, sản phẩm được chấp nhận rộng rãi.
- Thị trường công nghiệp: Bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, thương mại và cơ quan Nhà nước. Khách hàng này mua sản phẩm để biến thành hàng hóa, dịch vụ khác hoặc bán lại, cho thuê. Các khách hàng này tập trung ở Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng. Năm 2002, công ty có hơn 100 khách hàng công nghiệp với doanh thu 10 tỷ đồng.
Thị phần tương đối của công ty cao su Sao Vàng so với các công ty khác cho thấy thị phần tại miền Bắc rất lớn (61%), đặc biệt là sản phẩm lốp xe đạp (47%). Tuy nhiên, công ty cũng đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trong nước và quốc tế.
3.2. Lao động tiền lương
Công ty có đội ngũ lao động đông đảo, có tay nghề và chuyên môn đáp ứng yêu cầu sản xuất. Năm 2002, tổng số lao động là 2916 người, trong đó lao động trực tiếp chiếm 90,7%. Cơ cấu lao động ngày càng hợp lý, lao động gián tiếp giảm dần. Lao động nam chiếm phần lớn, thuận lợi cho công tác sản xuất. Bậc thợ 4, 5 chiếm khoảng 60%, cho thấy tay nghề lao động tương đối cao. Công ty áp dụng nhiều hình thức trả lương hợp lý, phản ánh đúng giá trị sức lao động.
3.3 Đặc điểm nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu sản xuất cao su rất đa dạng, phức tạp, bao gồm 11 nhóm chính. Một số nguyên vật liệu được cung ứng trong nước, một số khác phải nhập khẩu để đảm bảo chất lượng. Công ty nhập khẩu theo hai phương thức: nhập trực tiếp và nhập qua các công ty xuất nhập khẩu.
3.4 Trang thiết bị công nghệ sản xuất.
Máy móc thiết bị sản xuất của công ty đã cũ kỹ, lạc hậu, khó đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại. Công ty đã có những đầu tư lớn để đổi mới máy móc thiết bị và nâng cấp nhà xưởng, đặc biệt là các dự án xây dựng nhà máy cao su bán thành phẩm, nhập khẩu máy móc, liên doanh với hãng INOUE (Nhật Bản) để sản xuất lốp xe máy. Tuy nhiên, việc đầu tư còn mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ.
3.5. Đặc điểm về nguồn vốn.
Vốn là yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Công ty Cao su Sao Vàng đã nỗ lực tìm kiếm các giải pháp tăng nguồn vốn thông qua nhiều hình thức: huy động từ công nhân viên, vay tín dụng thương mại, thu hút ODA, tự tích lũy. Nguồn vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn (>80%) trong tổng vốn, phản ánh sự chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cấp nhà xưởng.
II. Phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm tại công ty cao su Sao Vàng trong mấy năm gần đây.
1. Hoạt động cơ bản về tiêu thụ sản phẩm.
1.1. Dự báo nhu cầu thị trường.
Công ty chú trọng công tác dự báo nhu cầu thị trường thông qua nhiều phương pháp: cử chuyên viên nghiên cứu biến động thị trường, thu thập báo cáo từ các chi nhánh, tổ chức hội nghị khách hàng, tham gia bình chọn sản phẩm ưu thích. Thông tin thu thập được tổng hợp, đánh giá để đưa ra các giải pháp phù hợp.